Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Hồi giáo – Phần 1

Thế giới Hồi giáo không phải là một khối đồng nhất về chính trị, xã hội, tôn giáo, mà có sự khác biệt. Sự khác biệt đó tùy thuộc vào những yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa, cư dân,… của từng quốc gia.

 Trong những mảng mầu khác nhau đó nổi lên một đất nước Hồi giáo có nhiều nét đặc trưng riêng cần quan tâm tìm hiểu. Đó là nước Thổ Nhĩ Kỳ, đầy đủ hơn là Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về Thổ Nhĩ Kỳ và Hồi giáo mà chúng tôi đã thu lượm được qua chuyến công tác tại Thổ Nhĩ Kỳ vừa qua.

1. Đôi nét về Thổ Nhĩ Kỳ

Có một đất nước nằm ở giữa châu Á và châu Âu với tên chính gốc là Turkey*, người Việt gọi qua Hán là Thổ Nhĩ Kỳ. Thổ Nhỹ Kỳ có diện tích 779.452 km2, nhưng 32% lãnh thổ phía tây cắt qua eo biển Ma-ma-ra (eo biển này nối Địa Trung Hải với Biển Đen) thuộc châu Âu, còn lại thuộc châu Á. Vùng đất thuộc châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu là cao nguyên và những dẫy núi cao. Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí rất thuận lợi, phía Tây giáp Địa Trung Hải; phía Bắc giáp Biển Đen là các nước Bun-ga-ri, phía Đông và Đông Bắc giáp Gru-di-a, Ác-mê-ni; phía Nam và Đông Nam giáp với I-ran, I-rắc, Xy-ri. Thổ Nhỹ Kỳ có hai con sông chính là Ti-gơ-rơ và Ơ-phơ-rát. Chính hai con sông này khi chảy về Tây Á tạo nên nền văn minh Lưỡng Hà thời cổ đại nổi tiếng. Với vị trí địa lý này Thổ Nhỹ Kỳ rất thuận lợi cho việc giao thương, nhưng đồng thời cũng là nơi có vị trí chiến lược về quân sự và chính trị trên chính trường thế giới.
 Thổ Nhĩ Kỳ có một chiều dài lịch sử với nhiều thăng trầm không chỉ
gắn với đất nước này mà còn gắn với khu vực, thậm chí cả thế giới. Theo hiểu biết hiện nay, vào giữa thế kỷ XVII-TCN, một nhà nước được hình thành và nhanh chóng trở thành đế quốc Hi-ti-tê kiểm soát toàn bộ vùng A-na-tô-li-a (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) và mở xuống phía Nam vùng đất của Xy-ri. Đến thế kỷ XIII-TCN, các bộ lạc Ấn-Âu từ phía bắc- vùng Ban-căng tràn xuống chinh phục Hi-ti-tê. Thiên niên kỷ I-TCN, vùng đất A-na-tô-li-a liên
——————————————————
* Trước đây, tên nước ngoài, ta thường gọi qua âm Hán ví dụ như: Tây Ban Nha- Spain, Bồ Đào Nha- Portuguese, Ái Nhĩ Lan- Ireland, Tô Cách Lan- Scotland, Tân Tây Lan- New Zealand, Mễ Tây Cơ- Mexico, Gia Nã Đại- Canada, Á Mỹ Lợi Gia- America,… Thậm chí tên người cũng gọi theo cách vậy, ví như: Nã Phá Luân- Napoleon, Kha Luân Bố- Colombo,…
tục bị xâm lược từ bên ngoài, khi thì người Ba Tư (I-ran) thế kỷ VI-TCN, khi thì A-lếch-xăng-đrơ năm 334-TCN, và cuối cùng là đế quốc La Mã năm 133-TCN.
Cuộc chinh phục và cai trị Thổ Nhĩ Kỳ của La Mã kéo dài nhiều thế kỷ. Tuy nhiên trong quá trình đó đã diễn ra nhiều biến cố quan trọng làm thay đổi tình hình chính trị, xã hội và văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 330, Hoàng đế La Mã là Công-xtăng-tin (ở ngôi từ 306 đến 337) đã lập thành phố mới ở vùng đất A-na-tô-li-a và lấy tên của mình đặt cho là Công-xtăng-ti-nốp. Năm 395 khi đế quốc La Mã phân đôi thành Đông và Tây, thì Công-xtăng-ti-nốp trở thành thủ đô của đế quốc Bi-dăng-tin (Đông La Mã).
Đế chế La Mã

 

Một biến cố quan trọng khác diễn ra vào thế kỷ XI đã làm thay đổi tình hình của A-na-tô-li-a. Đó là việc người Thổ (còn gọi là người Tuyếc) từ vùng Trung Á theo Hồi giáo đã chinh phục phần lớn vùng A-na-tô-li-a và lập nên đế quốc Ốt-tô-man (1289) hùng mạnh. Bằng sức mạnh quân sự và tài chinh phục, đế quốc Ốt-tô-man đã nhanh chóng mở rộng, phía Bắc đến tận vùng Ban-căng, phía Nam đến tận An-giê-ri,… tổng cộng gồm 25 quốc gia lớn, nhỏ. Công-xtăng-ti-nốp trở thành thủ đô của Đế quốc Ốt-tô-man với tên gọi mới là I-xtăng-bun.
Đế quốc Ôt-tô-man hùng mạnh cho đến thế kỷ XVI thì suy yếu dần. Những năm cuối thế kỷ XIX, Ốt-tô-man liên tục thất bại trong các cuộc chiến tranh với Nga dẫn tới việc một số phần đất chinh phục được trước đây đã được giải phóng như Bun-ga-ri, Séc-bi-a, Mông-tê-nơ-grô. Đầu thế kỷ XX, nhất là trong chiến tranh thế giới lần thứ I, Ốt-tô-man tiếp tục thất bại trong các cuộc chiến vùng Ban-căng dẫn đến việc mất gần hết các vùng đất đã chiếm được ở châu Âu trước đây.
Đế chế Ottoman
Sau thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I, Ốt-tô-man rơi vào nội chiến và đứng trước sự đe dọa chinh phục bằng quân sự từ các nước xung quanh. Một sự kiện đặc biệt quan trọng đã diễn ra đối với Thổ Nhĩ Kỳ là vào năm 1923, sau khi lãnh đạo lực lượng kháng chiến giành chiến thắng trong cuộc nội chiến, đánh bại cuộc xâm lược của Hi Lạp, tướng Mu-xơ-ta-pha Ke-man đã làm cuộc cách mạng bãi bỏ chế độ quân chủ Hồi giáo, xây dựng nền cộng hòa theo kiểu phương Tây*. Tên gọi Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ được gọi từ đây.
——————————–
* Người Thổ Nhĩ Kỳ gọi Mu-xơ-ta-pha Ke-man là vị Anh hùng, “Cha già dân tộc” vì những đóng góp to lớn của ông đối với đất nước này.
Mustafa Kemal Atatürk – Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ

Cũng cần nhắc đến một số sự kiện khác không kém phần quan trong diễn ra trong thế kỷ XX tác động đến đời sống chính trị, xã hội Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1945, sau khi giành chiến thắng trong chiến tranh thế giới lần thứ II, Liên Xô đòi lại các vùng đất còn lại mà Thổ Nhĩ Kỳ đã chiếm được. Việc này đã đưa Thổ Nhĩ Kỳ chuyển hẳn sang thân phương Tây, để đến sau đó năm 1952, chính thức gia nhập NATO. Những thập niên 1960 đến 1980, Thổ Nhĩ Kỳ xáo trộn vì các cuộc đảo chính quân sự. Tuy chính quyền dân sự được vãn hồi nhưng lực lượng quân đội trở thành thế lực quan trọng, chỗ dựa vững chắc cho các đảng cầm quyền.

Theo số liệu năm 2010, nước Thổ Nhĩ Kỳ với diện tích 780.000 km2, có 75 triệu dân, trong đó người Thổ chiếm 80%, người Cuốc chiếm gần 20%, các dân tộc ít người khác khoảng 1%. Về cơ cấu kinh tế, công nghiệp chiếm 30%, nông nghiệp chiếm 20%, dịch vụ chiếm 50%. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 12.000 USD/ năm, đứng thứ 16 trong nhóm nước G 20.
Dân số Thổ Nhĩ Kỳ
(nguồn : http://btgcp.gov.vn)

Bài viết liên quan

Việt Nam trong mắt người Thổ Nhĩ Kỳ

Trải qua 16 ngày hè đến Sa Pa, Huế, Hội An, Nha Trang, Phan Rang... các nhiếp ảnh gia Thổ Nhĩ Kỳ đã có rất nhiều ấn tượng cũng như kỷ niệm sâu sắc về ...

Bình luận